Đậu nành và tác dụng với sức khỏe

Đậu nành có tên khoa học là Glycinesoja. Người miền Bắc gọi đậu nành là đậu tương hay đỗ tương vì nó được dùng làm “tương”. Loại nước chấm này ngon ngổi tiếng gọi là “tương Bần”. Có người hiểu nhầm đây là nước chấm của người nghèo nhưng rất ngon và có sức hấp dẫn không chỉ với những người nghèo mà ngay cả những người có thu nhập cao cũng thèm thuồng.

Xuất xứ của đậu nành

Chén cơm chỉ có tương chao
Kèm thêm rau muống, rau lang qua ngày
.

“Tương bẩn” xuất phát từ Bần Yên Nhân (Hưng Yên). Làng Cự Đà (gần Hà Nội) có tương ngon “đáo để”:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
.

Đậu nành tươi mới thu hoạch còn nguyên quả, luộc ăn có khẩu vị đặc biệt mà lại có nhiều vitamin, chất xơ và sinh tố. Coi chừng, vui tay vui mừng ăn nhiều sẽ đầy bụng. Khi phơi khô, do phản ứng tương tác nào đó, vitamin giảm hiệu lực, sắt và kẽm cùng hấp thụ ít hơn.

Đậu nành có nguồn gốc tự nhiên

Đậu nành có nguồn gốc tự nhiên

Thành phần các chất trong hạt đậu nành thay đổi theo vùng đất. 100g đậu nành khô ở miền Nam Việt Nam sinh 274 calori, gồm: 38g protein, 16,5g lipid đa số là acid béo chưa bão hòa (tốt), 27% glucid, 4% celluloz, 498mcg photpho, 1.540mg kali, 244mg canci, 280mg magie, 6,8mg sắt, 0.9mg thiamin, 0.3mg riboflavin, 1,2mg nicotinamid. Ngoài ra còn có kẽm, phytosterol và isoflavonoid. Sắt trong dạt đậu không phải là “sắt heme” nên chỉ được cơ thể sử dụng với tỷ lệ thấp. Canxi cũng chỉ vào máu khoảng 10%. Muốn tăng độ hấp thụ hai chất này nên acid hóa thực đơn (canh chua) hoặc thêm vitamin C.

Sau khi sàng sẩy, ngâm hạt đậuvào nước. Hạt nào nổi lên là bị mọt. Chỉ dùng hạt chìm. Ngâm nước qua đêm cho vỏ hạt mềm. Muốn nhanh thì ngâm nước nóng hoặc nước vôi pha loãng (ăn mòn lớp vỏ), sau đó phải rửa tới khi hết mùi vôi. Nếu không ngâm, dù có nấu lâu, hạt cũng không mềm vì nước không ngấm được vào trong hạt.

Có thể bạn muốn xem:

Tác dụng của đậu nành với sức khỏe

Hạt đậu nành có một ít chất độc lectin, gây xáo trộn tiêu hóa. Chất này bị nhiệt phân hủy, vì thế không ăn sống mà phải nấu chín kỹ, ninh nhừ là an toàn nhất. Nấu lâu sẽ làm giảm lượng folacin còn 65% và thiamin còn 50%.

Đậu nành dùng làm nhiều loại thực phẩm: bột dinh dưỡng, sữa đậu nành, đậu phụ, tương chua (tương Bắc), tương ngọt…gần đây xuất hiện đậu nành rang và snack.

Glucid trong hạt đậu chia làm hai loại chính: chất xơ celluloz và chất sợi hòa tan (tinh bột). Celluloz làm mềm phân nên đi tiêu dễ dàng. Đi tiêu thường xuyên giảm được nguy cơ ung thư đại tràng và viêm ruột thừa. Cholesterol trong ruột bị chất sợi hòa tan ngoại hấp và bài xuất theo phân. Kết quả là cholesterol – huyết giảm.

Đậu nành tốt cho sức khỏe con người

Đậu nành tốt cho sức khỏe con người

Chất bột trong đậu nành thuốc loại “đường chậm” hấp thụ từ từ vào máu nên lượng glucoz – huyết chỉ tăng chút ít chứ không tăng vọt (như khi ăn cơm). Điều này rất thuận lợi cho bệnh tiểu đường. Người bệnh tiểu đường chóng đói, “ăn cả đấu gạo không thấy no”, thế mà lại chỉ được ăn ít cơm nên càng thèm ăn hơn. Ăn cơm độn đậu nên được phép ăn nhiều hơn, đỡ thèm, no bụng mà glucoz – huyết ít giao động. Tuy nhiên cũng không ăn nhiều, chỉ khoảng 25 – 50g mỗi bữa. Đối với bệnh tiểu đường loại I (phụ thuộc insulin), genistein của đậu nành ngăn ngừa thoái hóa tế bào beta, dẫn tới giảm hình thành nitric oxyd và PGF2 (Auang FC, Hisabami A, Chemotherapy 1992).

Vì đậu nành tiêu, dùng làm món ăn nhiều sẽ đầy bụng, carbohydrate xuống tới ruột già bị tạp khuẩn ruột lên men sinh hơi (sinh bujng0 và càng tức bụng (hơi tạo áp lực). Đầy bụng không chỉ do carbohydrate mà còn do chất nhày, nhựa. Rang nóng (nóng khô) làm chất nhày kết tụ nên giảm được yếu điểm này.


Cảm ơn các bạn đã theo dõi website Ăn uống và Sức khỏe anuong24h.info. Hy vọng sẽ gặp lại các bạn trong những bài viết sau.

Đậu nành và tác dụng với sức khỏe
4.7 (93.33%) 3 votes

Leave a Reply